Tiểu Sử Nguyễn Trường Tộ
Nguyễn Trường Tộ Sinh năm 1828 (có tài liệu nói là
1830) ở làng Bùi Chu, huyện Hưng Nguyên tỉnh Nghệ An,
trong một gia đình theo đạo Gia tô. Thuở ấu thơ, ông
học chữ Nho với cha là Nguyễn Quốc Thứ-một người
hay chữ, một thầy thuốc bắc có tiếng. Sau khi cha
mất, Ông theo học với các thầy đồ trong vùng như
ông Tú Giai, ông Cống sinh tên Hựu, ông huyện Địa
Linh. Những năm tháng ông nổi tiếng "thần đồng". Năm
27 tuổi ông được Giám mục Gauthier ( Ngô Gia Hậu)
mời vào chủng viện Tân ấp, thuộc xứ Xã Đoài để
dạy chữ Hán cho giám mục và được giám mục dạy
lại tiếng Pháp cùng các kiến thức khoa học châu Âu.
Năm 30 tuổi(1858), thấy Nguyễn Trường Tộ là thanh
thiếu niên có chí và thông minh, giám mục Gauthier đã
đưa qua Hương Cảng, Xinhgapo, Thuỵ sĩ, Rôma(ý) rồi
cuối cùng sang Paris(Pháp) theo học trong gần 2 năm. Chỉ
với thời gian ngắn ngủi này, chàng trai xứ Nghệ
đất Việt đã miệt mài học tập tiếp thu tri thức
khoa học hiện đại, tìm hiểu thực tế xã hội
phương Tây, ngõ hầu nay mai giúp ích cho quê hương
đất nước. Năm 1861, Nguyễn Trường Tộ về nước,
giữa lúc thực dân Pháp đang lần lượt chiếm lục
tỉnh Nam Kỳ, ông miễn cưỡng làm chức Từ hàn (phiên
dịch) cho Pháp. Năm 1862, đô đốc Bonard mở cuộc
chiến xâm lược Việt Nam, Ông xin thôi, không làm việc
cho Pháp nữa. Thời gian này ông đem những hiểu biết
của mình giúp ích cho quê hương đất nước. việc
đầu tiên là ông hướng dẫn dân làng Xuân Mỹ , một
nơi khí độc, đất xấu đi đến một vùng đất mới,
xây dựng làng xóm trù phú, đường xá dọc ngang như
bàn cờ (Xuân Mỹ nay là xã Nghi Đồng, huyện Nghi Lộc,
Tỉnh Nghệ An). Năm 1862-1863, ông thiết kế xây dựng
toà nhà nguyện của dòng tu nữ ở Gài Gòn. Năm
1864-1866 ông thiết kế xây dựng 4 ngôi nhà trong giáo
khu Xã Đoài. mấy công trình này của ông thuộc về
những công trình kiến trúc đầu tiên theo kiểu châu
Âu, giữa thế kỷ XIX. cùng thời gian này, ở quê nhà,
ông đã giúp Tổng đốc Nghệ An Hoàng Kế Viêm đào
kênh sắt, một công trình xưa Hồ Quý Ly dự định làm
mà không xong. Cũng trong thập kỷ 60 này, Nguyễn
Trường Tộ đã liên tiếp gửi lên triều đình Huế 59
bản điều trần đề xuất canh tân xây dựng đất
nước giàu mạnh. Gần sáu chục bản diều trần này
đề cập đủ mọi lĩnh vực. các mặt chủ yếu: -Về
mặt kinh tế: Nguyễn Trường Tộ quan tâm đến công,
nông, thương nghiệp. Mở mang buôn bán trong nước và
giao thương với nước ngoài, mời các công ty nước
ngoài đến giúp ta khai thác tài lợi, sửa đổi thuế
khoá làm sao cho " nước giàu dân củng giàu".... - Về
mặt văn hoá - giáo dục: Nguyễn Trường Tộ đề xuất
cải cách phong tục, chủ trương coi trọng dân, sửa
đổi chế độ thi cử mở mang việc học hành, thay
đổi nội dung giáo dục, lấy quốc âm thay thế chữ
Hán, lập trại tế bần Viện Dục Anh... - Về mặt
ngoại giao: Nguyễn Trường Tộ phân cấp cho triều
đình thấy rõ cục diện chính trị trên toàn thế
giới thời đó, những mâu thuẫn về quyền lợi giữa
Pháp với Anh và Tây Ban Nha, khuyên triều đình nên
ngoại giao trực tiếp với chính phủ Pháp tìm cách
ngăn chặn âm mưu xâm lược của bọn Pháp bên này,
khéo léo chọn thời cơ lấy lại 6 Tỉnh Nam Kỳ, xác
lập " tư thế làm chủ đón khách".... - Về mặt quân
sự: Nguyễn Trường Tộ, thời đó, tuy " chủ hoà"
nhưng không có tư tưởng " chủ hàng " một cách nguyên
tắc. Ông khuyên Triều đình cải tu võ bị, trọng võ
trọng văn, ưu ái người lính, biên soạn binh pháp,
đào tạo sĩ quan, mua sắm tàu thuyền vũ khí, xây dựng
phòng tuyến cả ở Thành thị và ở Nông thôn , đề
phòng quân Pháp xâm lược lan ra cả nước.... Dẩu
rằng tất cả những đề xuất canh tân của Nguyễn
Trường Tộ lúc bấy giờ chưa thật tối hảo, chưa
vượt ra khỏi ý thức hệ phong kiến, nhưng những
điều trần và luận văn của ông là những công trình
trí tuệ quý giá, vượt xa tầm nhìn của các bậc
thức giả đương thời. Vị thế danh nhân Nguyễn
Trường Tộ chính là ở đây. Tiếc rằng, triều đình
Huế hẹp hòi bảo thủ, bế quan toả cảng, lại vì
riêng tư lợi quyền, làm sao hiểu nổi tư tưởng canh
tân, trí tuệ lỗi lạc của ông. Tiếc thương cho một
tài năng. Ông mất vì một cơn bệnh hiểm nghèo, âm
thầm ra đi ở làng quê Bùi Chu ngày 10 tháng 10 năm Tự
Đức thứ 24 tức là ngày 23-11 năm 1871, từ giã cõi
dương với niềm ân hận: " Nhất thất túc, thành thiên
cổ hận Tái hồi đầu, thị bách niên cơ..." (Một
kiếp sa chân, muôn kiếp hận Ngoảnh đầu cơ nghiệp
ấy trăm năm...)
Các ý kiến mới nhất